Home

BENHMOMAU.COM ĐƯA RA MỘT SỐ CÂU HỎI CỦA ĐA SỐ BỆNH NHÂN:

open.png 1. NGUYÊN NHÂN GAN NHIỄM MỠ TỪ ĐÂU?

Nguyên nhân gan nhiễm mỡ từ đâu? Nhiều người khi đi khám bệnh tổng quát, khám sức khoẻ định kỳ được bác sĩ chẩn đoán gan nhiễm mỡ trong khi hoàn toàn không có triệu chứng bất thường nào về đường gan mật. Do đó không ít người cảm thấy hoang mang.

Gan nhiễm mỡ hay còn gọi gan thoái hoá mỡ là tình trạng ứ đọng mỡ trong gan do nhiều nguyên nhân. Bình thường lượng mỡ chiếm khoảng 3-5% trọng lượng của gan. Gan nhiễm mỡ mức độ nhẹ khi lượng mỡ trong gan chiếm 5-10%, nếu 10-25% là nhiễm mỡ mức độ vừa và nếu vượt quá 30% là nhiễm mỡ nặng. Mức độ gan nhiễm mỡ cũng phụ thuộc vào bệnh chính gây ra và việc tuân thủ chế độ điều trị bệnh.

giảm cân hiệu quả

Khoảng 70% bệnh nhân gan nhiễm mỡ là do béo phì.

Nguyên nhân gan nhiễm mỡ có nhiều nguyên nhân như béo phì, tiểu đường, tăng lipid máu, nghiện rượu, viêm gan siêu vi, do sử dụng một số thuốc như corticoid, tamoxiphen, amiodarone… Đặc biệt, khoảng 70% bệnh nhân gan nhiễm mỡ là do béo phì.

Nguyên nhân gan nhiễm mỡ do Béo phì

Gan nhiễm mỡ thường gặp ở bệnh nhân béo phì và mức độ nhiễm mỡ cũng liên quan đến mức độ béo phì, đặc biệt là béo bụng. Có 80% đến 90% bệnh nhân béo phì bị gan nhiễm mỡ. Nếu béo phì nặng thì mức độ gan nhiễm mỡ cũng nặng hơn và lâu ngày sẽ có khả năng đưa đến viêm gan thoái hóa mỡ và cuối cùng có thể tiến triển thành xơ gan.

 

nguyen nhan gan nhiem mo

 

Nguyên nhân gan nhiễm mỡ do Tiểu đường

Gan nhiễm mỡ ít phổ biến ở bệnh nhân tiểu đường type I, nhưng rất thường gặp ở bệnh nhân tiểu đường type II do có sự rối loạn về chuyển hoá chất béo. Ước tính 50% bệnh nhân tiểu đường type II bị gan nhiễm mỡ.

Nguyên nhân gan nhiễm mỡ do Tăng mỡ máu

Mỡ máu cao hay tăng lipid máu (bao gồm tăng triglyceride máu, tăng cholesterol máu hoặc cả hai) cũng thường kèm theo gan nhiễm mỡ với tỷ lệ tương đối cao. Điều trị chứng tăng mỡ máu bằng chế độ ăn hạn chế chất béo, bớt ăn thịt, tăng cường ăn cá (hoặc uống thêm dầu cá omega 3), ăn nhiều rau xanh, đậu hạt, trái cây, ăn ít ngọt, hạn chế rượu bia (không uống quá 2 lon mỗi ngày đối với nam và một lon đối với nữ) vì trong bia tuy không có chất béo nhưng chúng có nhiều năng lượng rỗng và phần năng lương dư thừa này sẽ chuyển hóa thành mỡ đọng lại ở bụng được gọi là mỡ bụng. Việc thực hiện tốt chế độ ăn hợp lý mà chưa cần dùng đến thuốc để giảm mỡ máu cũng góp phần cải thiện tình trạng gan nhiễm mỡ.

Nguyên nhân gan nhiễm mỡ do Nghiện rượu

Gan nhiễm mỡ thường gặp ở người nghiện rượu. Việc tăng tổng hợp và giảm phân giải chất béo trong gan là kết quả của nghiện rượu mãn tính làm mỡ bị ứ lại trong gan. Gan nhiễm mỡ ở người nghiện rượu thường có thể phục hồi nhưng nếu tiếp tục uống rượu sẽ dẫn tới viêm gan do rượu và xơ gan. Bên cạnh đó việc thường xuyên dùng các loại thuốc như acemol, panadol… để giảm nhức đầu sau khi uống rượu cũng làm cho gan tổn hại nhanh. Như vậy không có thần dược nào để chữa gan nhiễm mỡ hay để phòng xơ gan do rượu tốt bằng con đường cai nghiện rượu trước khi quá trễ.

open.png 2. NGUYÊN NHÂN MỠ MÁU CAO ? (chi tiết)

Mỡ máu cao nguyên nhân do đâu?

Chế độ ăn:

  1. Ăn quá nhiều mỡ động vật.
  2. Ăn quá nhiều thức ăn có chứa nhiều Cholesterol (phủ tạng động vật, mỡ độngvật, trứng, bơ, sữa toàn phần…).
  3. Chế độ ăn dư thừa năng lượng (béo phì).

Di truyền:

  1. Tăng Cholesterol gia đình (thiếu hụt thụ thể với LDL).
  2. Rối loạn lipid máu kiểu hỗn hợp có tính chất gia đình.
  3. Tăng Cholesterol máu do rối loạn hỗn hợp gen.

Thứ phát:

  1. Hội chứng thận hư.
  2. Suy giáp.
  3. Đái tháo đường.
  4. Bệnh lý gan tắc nghẽn.
  5. Một số bệnh gây rối loạn protein máu (đau tuỷ xương, macroglobulinemia).

Nguyên nhân gây tăng Triglycerid máu

  1. Thiếu hụt gen lipase tiêu huỷ lipoprotein hoặc apolipoprotein C-II.
  2. Tăng TG có tính chất gia đình.
  3. Béo phì.
  4. Uống quá nhiều rượu.
  5. Đái tháo đường.
  6. Dùng thuốc chẹn bêta giao cảm kéo dài.

Nguyên nhân gây giảm HDL-C

  1. Hút thuốc lá.
  2. Béo phì.
  3. Lười vận động thể lực.
  4. Đái tháo đường không phụ thuộc insulin.
  5. Tăng TG máu.
  6. Dùng thuốc chẹn bê ta giao cảm kéo dài.
  7. Rối loạn gen chuyển hoá HDL.

open.png 3. NGUYÊN NHÂN BỆNH HUYẾT ÁP ? (chi tiết)

Nguyên nhân cao huyết áp tiên phát

Khoảng 90-95 % các trường hợp bị bệnh cao huyết áp là không có nguyên nhân trực tiếp hay còn gọi là tăng huyết áp tiên phát. Có một vài yếu tố làm tăng khả năng mắc bệnh cao huyết áp. Chúng được gọi là yếu tố nguy cơ.

Yếu tố nguy cơ cao huyết áp có thể điều chỉnh được:

  1. Thừa cân và Béo phì: Người có chỉ số khối cơ thể (BMI) là 23 hoặc cao hơn có nguy cơ bị tăng huyết áp cao hơn.
  2. Ăn nhiều muối: làm tăng huyết áp ở một số người.
  3. Hút thuốc lá gây co mạch và tăng xơ vữa mạch.
  4. Rượu: uống rượu nặng và thường xuyên có thể gây tăng huyết áp đột ngột.
  5. Thiếu vận động: một cuộc sống tĩnh lặng dễ dẫn đến thừa cân và làm tăng nguy cơ bị tăng huyết áp.
  6. Stress: nó được đề cập đến như một yếu tố nguy cơ. Tuy nhiên, mức độ stress rất khó đánh giá và thay đổi theo từng người.

Yếu tố nguy cơ cao huyết áp không thể điều chỉnh được:

  1. Chủng tộc: Ví dụ: người Mỹ gốc Phi có nguy cơ tăng huyết áp hơn người Capcasians, và có xu hướng tăng huyết áp sớm hơn và nặng hơn.
  2. Di truyền: tăng huyết áp có xu hướng di truyền. Nếu bố mẹ hoặc những người thân của bạn bị tăng huyết áp, bạn có nguy cơ bị bệnh này cao hơn.
  3. Tuổi: Nhìn chung, tuổi càng cao bạn càng dễ bị tăng huyết áp. Tăng huyết áp thường xảy ra ở người trên 35 tuổi. Đàn ông thường bắt đầu bị tăng huyết áp từ 35-50. Phụ nữ có thể bị tăng huyết áp sau mãn kinh. Có khoảng < 10% số người bị tăng huyết áp là do một bệnh hoặc yếu tố nào nào đó gây ra. Đây gọi là tăng huyết áp thứ phát, hay tăng huyết áp có căn nguyên.

Nguyên nhân cao huyết áp thứ phát

Khi bạn bị tăng huyết áp xuất hiện sớm (khi còn trẻ) hoặc tăng huyết áp rất khó khống chế thì cần tìm hiểu kỹ xem có nguyên nhân nào không.

  1. Các bệnh lý về thận: Viêm cầu thận cấp; Viêm cầu thận mạn tính; Sỏi thận, niệu quản; Hẹp động mạch thận…
  2. Các bệnh nội tiết: cường tuyến giáp; cường tuyến yên; bệnh u tế bào ưa crom (u tủy thượng thận); u vỏ thượng thận…
  3. Các bệnh lý mạch máu và tim: Hở van động mạch chủ; hẹp eo động mạch chủ; bệnh Takayasu…
  4. Tăng huyết áp do nhiễm độc thai nghén.
  5. Tăng huyết áp do dùng một số thuốc: thuốc chữa ngạt mũi, chữa hen; thuốc tránh thai; thuốc đông y như cam thảo…
  6. Tăng huyết áp do yếu tố tâm thần: lo lắng, sợ sệt quá mức…

 

open.png 4. HƯỚNG ĐIỀU TRỊ – GIẢI PHÁP THIÊN NHIÊN – KẾT TINH CHẤT XÁM GIÁO SƯ TIẾN SĨ – BỆNH NHÂN TRẢI NGHIỆM ++

Thảo dược quý Nần nghệ được tìm thấy như thế nào?

TS Lương y Nguyễn Hoàng kể: “Đầu những năm 1970, trong lúc đi sưu tầm cây thuốc, tôi có gặp một cụ già người Dao, cụ chỉ cho tôi một dây leo cuốn, củ có màu vàng, rễ giống râu hùm, có vị đắng và chỉ mọc ở độ cao trên 1500m so với mặt nước biển. Cụ bảo cây này quý lắm đấy, nhưng chỉ làm thuốc thôi không ăn được đâu, nó giúp một số cán bộ bụng to đã bé lại và chữa đau nhức xương khớp rất hiệu nghiệm; dân ở đây gọi nó là củ Nần (Nần theo tiếng dân tộc có nghĩa là râu hùm). Về mặt thực vật học, tôi nhận ra nó thuộc họ củ nâu, thuộc chi Dioscorea mà tôi đã lưu ý sưu tầm từ vài năm trước”.

Cây thuốc này sau đó đã được giám định tên khoa học là Dioscorea collettii, chiết xuất saponin steroid từ củ với hàm lượng khá cao. (Những năm sau đó trong các công trình khoa học đăng trên tạp chí Dược học trong nước và ở Liên Xô cũ, tôi đặt tên cây này là Nần nghệ).

Các công trình nghiên cứu khoa học chứng minh tác dụng của cây thuốc quý Nần nghệ.

Năm 1985 tại trường Đại học y số 1 Xêtrênốp – Matxcơva, luận án PTS về cây Nần nghệ đã được bảo vệ thành công.

Trở về nước, cùng với sự cộng tác của cố giáo sư Phạm Khuê (Viện Lão Khoa), GS.BS Nguyễn Trung Chính, các thầy thuốc ở bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô, PGS.TS Hoàng Kim Huyền cùng các đồng nghiệp tại trường đại học Dược Hà Nội. Kết quả là thuốc Diosgin đã ra đời vào năm 1995; được hội đồng nghiên cứu của trường Đại học Dược Hà Nội đánh giá xuất sắc; công trình cũng được vinh dự đạt giải nhất hội nghị khoa học Y Dược trẻ toàn quốc.

Sử dụng cho người có rối loạn chuyển hóa lipid, kết quả xét nghiệm sinh hóa trên 5 chỉ tiêu về lipoprotein trong máu cho thấy tất cả các chỉ số lipid máu đều có xu hướng trở lại bình thường, đặc biệt hạ rất mạnh lipoprotein tỷ trọng thấp (Mỡ xấu LDL-c) và có xu hướng tăng lipoprotein tỷ trọng cao (Mỡ tốt HDL-c), do đó hạ được tỷ số CT/HDL (CT-cholesterol toàn phần). Đặc biệt cholesterol toàn phần trong máu của ~100% người bệnh đều giảm.

Thuốc còn có tác dụng hạ huyết áp trên hầu hết các bệnh nhân có huyết áp cao. Trong điều trị không thấy có tai biến và tác dụng xấu nào. Kết quả nghiên cứu dược lý còn cho thấy tác dụng chống viêm khớp và điều hòa nhịp tim rất tốt.

Vậy là sau 40 năm nghiên cứu, cho thấy cây Nần nghệ có 3 tác dụng:

Nần Nghệ

  • Hạ mỡ dư thừa trong máu, mỡ trong gan, mỡ nội tạng (cholesterol, triglycerid)
  • Giúp bình ổn huyết áp và điều hòa nhịp tim
  • Chống viêm khớp (Hiệu quả cao với viêm khớp dạng thấp)

Với nhiều công trình khoa học trong nước và nước ngoài đánh giá về hiệu quả, tính ưu việt của nguồn gen dược liệu quý Nần nghệ. Đây chính là giải pháp thiên nhiên đột phá, ưu việt từ thảo dược cho người mỡ máu, mỡ gan, huyết áp, tim mạch.

Nần nghệ được đưa vào danh mục thực vật quý hiếm “Sách Đỏ Việt Nam” phần 2 trang 391 và 392

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *